Sơ Đường Tứ Tuyệt:
Cô Lệ và mọi người trước khi xem chi tiết về bốn nhà thơ lớn nhất đời Đường xin xem qua đôi dòng
giới thiệu về thơ Đường
Thơ Đường hay
Đường thi (唐诗) được sáng
tác trong khoảng từ thế kỉ 7 – 10 (618 – 907). Trong Toàn Đường Thi lưu
giữ gần 49 000 bài thơ Đường. Đời Thanh chọn 300 bài do Hành Đường và
Trần Uyển Tuấn bổ chú thành “Đường thi tam bách thủ” được phổ biến rộng
rãi ở Trung Quốc, Việt Nam…
Đường Thi gồm 4 giai đoạn:
- Sơ Đường (618 – 673)
- Thịnh Đường (713 – 766)
- Trung Đường (766 – 835)
- Vãn Đường (835 – 907)
Và đây là Sơ Đường Tứ Tuyệt:
1.
Lý Bạch
(tiếng Trung: 李白; bính âm: Lǐ Bái / Lǐ Bó; 701- 762): Hậu duệ của tướng
quân Lý Quảng nhà Hán, là cháu chín đời của Vũ Chiêu Vương Lý Cao nước
Tây Lương thời Ngũ hồ thập lục quốc. Tương truyền lúc ông sắp sinh, bà
thân mẫu nằm mộng thấy sao Tràng Canh (hay Trường Canh), vì sao này có
tên là Thái Bạch nên đặt tên con là Bạch. Sau này ông tự đặt hiệu là
Thái Bạch, rồi Tràng Canh; ngoài ra do sinh ở làng Thanh Liên nên cũng
lấy hiệu là Thanh Liên cư sĩ. Ông là nhà thơ danh tiếng nhất thời thịnh
Đường nói riêng và Trung Hoa nói chung, được hậu bối tôn làm Thi Tiên
(Tiên Thơ).
2.
Đỗ Phủ
(杜甫) (Dù Fǔ)(712–770): Hiệu Tử Mỹ, tự Đỗ Thiếu Lăng. Là một nhà thơ
Trung Quốc nổi bật thời nhà Đường. Cùng với Lý Bạch, ông thường được coi
là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc. Tham vọng lớn nhất
của ông là có được một chức quan để giúp đất nước, nhưng ông đã không
thể thực hiện được điều này. Cuộc đời ông, giống như cả đất nước, bị
điêu đứng vì Loạn An Lộc Sơn năm 755, và 15 năm cuối đời ông là khoảng
thời gian hầu như không ngừng biến động. Trước khi trở nên nổi tiếng,
những tác phẩm của ông bị ảnh hưởng nhiều từ cả văn hóa Trung Quốc và
Nhật Bản. Ông từng được các nhà phê bình Trung Quốc gọi là Thi sử và Thi
thánh. Đối với độc giả phương Tây, tầm vóc các tác phẩm của ông cho
phép ông trở thành một “Virgil, Horace, Ovid, Shakespeare, Milton,
Burns, Wordsworth, Béranger, Hugo hay Baudelaire của Trung Quốc”. (Hung
p. 1)
3.
Bạch Cư Dị (白居易) (
Bó Jūyì)
(772-846): Tự là Lạc Thiên (樂天), hiệu là Hương Sơn cư sĩ là nhà thơ
Trung Quốc nổi tiếng thời nhà Đường. Tác phẩm nổi tiếng của Bạch Cư Dị ở
Việt Nam: Tỳ bà hành, Trường Hận Ca. Bạch Cư Dị để lại khoảng trên
2.800 bài thơ.
4.
Vương Bột (王勃) (Wángbó) (647–675): Tự Tử An, người Giáng Châu, Long Môn (
ngày
nay là Hòa Tân, Sơn Tây)thời nhà Đường. Vương Bột được xem là một trong
“Sơ Đường tứ kiệt” (bốn nhà thơ kiệt xuất giai đoạn đầu của nhà Đường),
3 nhà thơ kia là: Dương Quýnh (杨炯), Lư Chiếu Lân (卢照邻) và Lạc Tân Vương
(骆宾王).Tác phẩm nổi tiếng của ông là Đằng Vương Các Tự. Các tác phẩm nổi
tiếng của Vương Bột có:
- Hán Thư Chỉ Hà (10 quyển) (汉书指瑕)十卷
- Chu Dịch Phát Huy (5 quyển) (周易发挥)五卷
- Thứ Luận Ngữ (10 quyển) (次论语)十卷
- Chu Trung Toản Tự (5 quyển(舟中纂序)五卷
- Thiên Tuế Lịch(千岁历)
Nhưng các tác phẩm trên đều bị thất bản.
Để xem chi tiết từng nhà thơ, xin xem phần ở dưới đây:
Lý Bạch (tiếng Trung: 李白; bính âm:
Lǐ Bái /
Lǐ Bó; 701- 762) là nhà thơ danh tiếng nhất thời thịnh Đường nói riêng và Trung Hoa nói chung, được hậu bối tôn làm
Thi Tiên.
Thân thế
Theo lời Lý Bạch kể lại, thì ông là hậu duệ của tướng quân Lý Quảng
nhà Hán, là cháu chín đời của Vũ Chiêu Vương Lý Cao nước Tây Lương thời
Ngũ Hồ thập lục quốc. Có sách ghi ông là con cháu đời sau tông thất nhà
Đường. Tương truyền lúc ông sắp sinh, bà thân mẫu nằm mộng thấy sao
Tràng Canh (hay Trường Canh), vi sao này có tên là Thái Bạch nên đặt tên
con là Bạch[1]. Sau này ông tự đặt hiệu là
Thái Bạch, rồi
Tràng Canh; ngoài ra do sinh ở làng Thanh Liên nên cũng lấy hiệu là
Thanh Liên cư sĩ. Giới thi nhân bấy giờ thì rất kính nể tài uống rượu làm thơ bẩm sinh, nên gọi Lý Bạch là:
Tửu trung tiên,
Lý Trích Tiên.
Về sau này, Đỗ Phủ, thua ông 11 tuổi, được tôn làm Thi Thánh (Thơ Thánh) thì Lý Bạch được tôn làm
Thi Tiên (Thơ Tiên).
Tiểu sử
Vào cuối đời nhà Tùy, một người họ Lý do thiếu nợ phải trốn ra Tây
Vực, kết duyên cùng một Man bà (phụ nữ Tây Vực), đến năm Trường An
nguyên niên sinh ra Lý Bạch (lúc này nhà Đường đang có sự biến do Võ Tắc
Thiên gây ra).
Niên thiếu
Lý Bạch ở Lũng Tây, Cam Túc suốt thời thơ ấu, được mẹ dạy cho chữ Tây
Vực, cha dạy cho Kinh Thi, Kinh Thư, đến 10 tuổi đã thông thạo và thích
làm thơ.
Gia đình giàu có, nên từ nhỏ Lý Bạch đã tha hồ đi đây đi đó cùng cha.
Ông tỏ ra rất thích, chí hướng của ông sau này không phải quan trường,
mà là thơ túi rượu bầu, thong dong tiêu sái. Đến năm 10 tuổi gia đình
chuyển về huyện Chương Minh, Tứ Xuyên. Tại đây Lý Bạch say mê học kiếm
thuật, trong một thời gian ngắn, tài múa kiếm và tài thơ của ông được
bộc lộ rõ rệt. 15 tuổi ông đã có bài phú ngạo Tư Mã Tương Như, bài thơ
gửi Hàn Kinh Châu, khá nổi tiếng. Lúc 16 tuổi danh tiếng đã nổi khắp Tứ
Xuyên, thì ông lại phát chán, bèn lên núi Đái Thiên Sơn học đạo, bắt đầu
cuộc đời ẩn sĩ.
Ngao du sơn thủy
Làm ẩn sĩ trên núi được 2 năm, ông lại hạ sơn, bắt đầu làm hiệp sĩ,
đi lùng hết các thắng cảnh ở Hà Bắc, Giang Tây, Tràng An… Bạn đồng hành
với ông lúc này là Đông Nham Tử, nhưng chỉ đi chung được 1 năm. Đến năm
20 tuổi Lý Bạch đã đi khắp nước Thục, ông lại về Tứ Xuyên với gia đình,
chuẩn bị tiền đi đường và tiền mua rượu cho cuộc hành trình sắp tới. Ông
đến làm dưới trướng của thứ sử Ích Châu Tô Dĩnh, được ông này khen là
thiên tài, “có thể sánh với Tư Mã Tương Như”.
Năm 723, Lý Bạch mặc áo trắng, đeo một bầu rượu lớn, chống kiếm lên
đường viễn du. Trong khoảng ba năm, ông đã tham quan hầu hết cảnh đẹp
Trung Hoa, như là hồ Động Đình, sông Tương, Kim Lăng, Dương Châu, Ngô
Việt, Giang Hạ…Đến năm 726, ông đến Vân Mộng kết duyên cùng cháu gái của
Hứa tướng công. Thời gian này tài năng thơ bắt đầu nở rộ. Đến 30 tuổi
thì tiếng tăm đã vang đến triều đình. Được mời đi làm quan, nhưng ông
không nhận.
Năm Khai Nguyên thứ 23 (735), ông đi chơi ở Thái Nguyên, gặp Quách Tử
Nghi đang ở tù, ông xin giúp, Quách liền được thả. Ông lại dẫn vợ rong
chơi qua nước Tề, Lỗ, rồi định cư ở Nhiệm Thành. Đến đây Lý Bạch lại
được Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Đào Cái, Trương Thúc Minh –
những ẩn sĩ đương thời – rủ lên núi Tồ Lai thưởng ngoạn, rồi say sưa ở
Trúc Khê. Nhóm này được người ta gọi là “Trúc Khê lục dật”.
Vào cung và bị gièm pha
Năm 741, Lý Bạch lại một phen từ bỏ gia đình, vợ con, ông đến Hồ Nam
rồi Giang Tô, Sơn Đông… đi đến đâu danh tiếng lan ra đến đó.
Năm đầu niên hiệu Thiên Bảo (742), ông đến Cối Kê, cùng đạo sĩ Ngô
Quân ở ẩn tại Thiểm Trung. Sau đó cùng bạn về Trường An, ở đây ông gặp
thái tử tân khách Hạ Tri Chương, trở nên đôi bạn rượu-thơ thân thiết.
Ông được Hạ Tri Chương tiến cử lên vua Đường Minh Hoàng, vua Đường nghe
danh đã lâu nên rất thích, vời vào điện Kim Loan giao việc thảo thư từ,
sau được phong làm Hàn Lâm, chuyên giữ việc mật. Được vua Đường và Dương
Quý Phi yêu thích. Tại đây, cùng với Hạ Tri Chương, Thôi Tông Chi,
Vương Tiến, Tô Tần, Trương Húc, Tiêu Toại, Lý Thích Chi hợp thành nhóm
“Tửu trung bát tiên”.
Đến năm 745, do lối sống của ông gàn dở bê bối, say xỉn suốt ngày,
lại bị Dương Quốc Trung gièm pha nên Dương Quý Phi cũng phát ghét, chỉ
trích luôn luôn làm Đường Minh Hoàng khó xử.
Một bài thơ của Lý Bạch
Lý Bạch nhận thấy sự đó, cộng với lòng đam mê du lãm đang trỗi dậy,
ông liền từ biệt vua Đường. Vua rất buồn, nhưng cũng chiều theo, lại
tặng thêm rất nhiều vàng nhưng thi nhân không nhận, cuối cùng trao cho
ông quyền uống rượu miễn phí tại bất cứ quán rượu nào đi qua, tiền rượu
sẽ do ngân khố thanh toán.
Rời cung, bị đày ải và qua đời
Trong 10 năm kể từ lúc rời cung, Lý Bạch tha hồ uống rượu và đi chơi,
ông từng qua Triệu, Nguỵ, Tề, Tần, Lương, Tống, các vùng Bân, Kỳ,
Thương, Ư, Lạc Dương, các sông Hoài, sông Tứ… Do đi quá nhiều nên ông
cũng quen biết và thân thiết với rất nhiều, trong đó có Đỗ Phủ, Sầm
Tham, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích…
Năm Thiên Bảo thứ 13 (755), ông quen với Nguỵ Hạo ở Quảng Lăng, hai
người cùng xoã tóc đi thuyền vào sông Tần Hoài. Sau đó đến Tuyên Thành.
Tháng 11 năm này có loạn An Lộc Sơn, Lý Bạch liền về Lư Sơn, ở ẩn tại
Bình phong điệp. Năm (56 tuổi), tiết độ sứ Vĩnh Vương Lân đến tận núi
mời ông về phủ. Lý Bạch đành phải đi theo. Đến khi Lân làm phản bị bắt,
Lý Bạch chạy trốn nhưng không thoát, lúc sắp bị tử hình có Tuyên Uý đại
sứ Thôi Chi Hoán với ngự sử trung thừa Tống Nhược Tư đem giấu đi. Sang
năm 757 bị triều đình bắt lại, lúc này người từng được Lý Bạch cứu khi
xưa là Vương Chi Hoán ra sức giải oan, ông được giảm xuống tội đi đày.
Năm 758, trên đường đi đày ba vùng Dạ Lang, Động Đình, Tam Giáp, Lý
Bạch được tha, liền đi xuống phía đông đến Hán Dương, tiếp tục cuộc ngao
du đây đó, tuy nhiên tuổi già, sức yếu, ông đành đến Đang Đồ, ở nhờ anh
họ là Lý Dương Băng. Đến năm 762, vua Đường Đại Tông lên ngôi, cho
người mời Lý Bạch nhưng trên đường đi thì nghe tin ông đã qua đời rồi.
Tiểu truyện
Truyện kể về Lý Bạch rất nhiều, ngoại trừ những chuyện phù phép quái
gở, thì những chuyện sau đây được sách sử chép lại và người đời truyền
tụng:
Chuyện thi cử
Năm Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông (742), Lý Bạch đến Tràng An ứng
thí, tình cờ gặp Hạ Tri Chương (đang giữ chức Hàn Lâm), cả hai đều mê
rượu, mê thơ nên trở thành thân thiết.
Đề thi năm ấy là: “
Không mong văn chương hơn thiên hạ, chỉ cần văn chương đúng ý quan chấm thi“.
Khoa thi vừa xong, Hạ Tri Chương sợ Lý Bạch không có tiền đút lót sẽ bị
đánh rớt, liền gửi mộ lá thư giới thiệu cho giám khảo. Thư đến hai quan
giám khảo là Cao Lực Sĩ và Dương Quốc Trung, hai người này vốn không
thích Hạ Tri Chương, nên càng ghét Lý Bạch. Lúc chấm thi, thấy hai chữ
Lý Bạch, Dương Quốc Trung liền phê: “Người này dốt quá chỉ đáng mài mực
cho bọn sĩ tử thôi”. Cao Lực Sĩ phê hùa theo: “Có lẽ chưa đáng mài mực,
chỉ đáng cởi giày cho họ thôi”. Rồi đánh hỏng vào bài thi của ông.
Chuyện trong cung
Thi rớt kỳ ấy, Lý Bạch nghe lời Hạ Tri Chương ở lại chơi ít tháng,
đợi Hạ tiến cử. Một hôm sứ nước Phiên dâng thư cho vua Huyền Tôn bằng
tiếng Phiên, cả triều không ai đọc được. Vua vừa tức giận vừa hổ thẹn,
hẹn sứ giả 6 ngày sẽ trả lời thư. Hạ Tri Chương kể chuyện cho Lý Bạch
nghe. Vì Lý Bạch từng được mẹ dạy chữ Phiên, ông bảo “cũng chẳng khó
gì”, liền hôm sau được vua Đường vời vào triều. Lý Bạch không chịu vào,
vua liền phong cho chức Học vị tiến sĩ, ông mới mặc áo, đội mão bước
vào. Cầm thư Phiên, Lý đọc vanh vách, vua từ đó rất thích ông, không ngờ
lại có người thông tuệ như vậy, liền thăng chức cho ông làm Hàn Lâm học
sĩ.
Đến khi Vua sai viết thư trả lời bằng tiếng Phiên, Lý Bạch mặt đỏ,
liểng xiểng đi đến Cao Lực Sĩ, đưa chân cho y tháo giày, rồi ngoắc Dương
Quốc Trung lại mài mực ông mới chịu viết. Hai người này đành phải lúi
húi làm theo.
Thời gian trong cung của Lý Bạch cũng có nhiều chuyện được chép lại,
đại loại là về tài thơ của Lý Bạch. Như việc Lý Bạch say rượu làm thơ
thần tốc thì có rất nhiều. Ngoài ra giai thoại sau đây rất nổi tiếng:
Thời Khai Nguyên, lúc hoa nở đẹp, vua Đường Minh Hoàng cùng Dương Quý
Phi ra ngắm hoa, sai nhạc đội ca hát. Lần này vua muốn có lời ca ngợi
sắc đẹp của Dương Quý Phi, liền vời Lý Bạch đương say rượu vào đặt cho.
Lý Bạch đang say viết liền 3 bài Thanh Bình điệu. Vua và Quý Phi rất
thích. Sau này Dương Quốc Trung, Cao Lực Sĩ, những người từng bị Lý Bạch
làm nhục gièm pha ông với Dương Quý Phi (em gái của Dương Quốc Trung)
về bài Thanh Bình Điệu, bài này có đoạn:
Khả liên Phi Yến ỷ tân trang
Hai người cho là Lý Bạch sánh ngang Quý Phi với Triệu Phi Yến, một
hoàng hậu bị thất sủng. Dương Quý Phi từ đó không ưa Lý Bạch, lại thêm
Trương Ký ganh ghét gièm pha, Lý Bạch phải cuốn gói khỏi triều đình.
Cái chết
Thời kỳ sau của Lý Bạch ít được chú ý, đến khi Đường Đại Tông – một
người yêu thơ Lý Bạch – lên ngôi thì ông đã không còn nữa rồi. Có người
bảo ông chết do bệnh, nhưng trong dân gian còn lưu truyền một chuyện đẹp
đẽ về cái chết của Lý Bạch:
Tại sông Thái Trạch, huyện Đang Đồ, trong một đêm rằm, Lý Bạch đang
say xỉn trên bờ sông, thấy trăng in đáy nước đẹp quá, liền nhảy xuống
với bắt mà chết đuối. Nơi đó có một cái đài, người sau đặt tên là Tróc
nguyệt đài (Đài bắt trăng). Chuyện này được Đỗ Phủ, Vương Định Bảo, Hồng
Dung Trai ghi lại.
Có nhiều bằng chứng lịch sử nêu rằng Lý Bạch đã tự tử (bài thơ tuyệt mệnh của ông).
Tác phẩm
Nhà thơ Bì Nhật Hưu thời vãn Đường nói rằng: “Từ khi nhà Đường dựng
nghiệp đến giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần,
đọc xong thì thần ruổi tám cực, lường rồi thì lòng ôm bốn bể, lỗi lạc dị
thường, không phải lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch”.
Lý Bạch làm hơn 20.000 bài thơ cả thảy, nhưng làm bài nào vứt bài đó,
nên được biết tới là nhờ dân gian ghi chép hơn cả. Sau loạn An Lộc Sơn
thì mất rất nhiều. Đến khi ông mất năm 762 thì người anh họ Lý Dương Lân
thu thập lại, thấy chỉ còn không tới 1/10 so với người ta truyền tụng.
Sang năm 1080, Sung Minh Chiu người Hàn Quốc mới gom góp lại tập thơ Lý
Bạch, gồm 1800 bài. Đến nay thì thơ Lý Bạch còn trên dưới 1000 bài, bài
nào cũng được đánh giá rất cao, nhưng nổi tiếng trong dân gian thì có:
Tương Tiến Tửu, Hiệp khách hành, Thanh Bình Điệu, Hành lộ nan…
Khác với Đỗ Phủ, thơ Lý Bạch thích viển vông, phóng túng, ít đụng chạm đến thế sự mà thường vấn vương hoài cổ (
Phù phong hào sĩ ca, Hiệp khách hành, Việt trung lãm cổ…), tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp (
Cổ phong, Quan san nguyệt…), cảm thông cho người chinh phụ (
Trường can hành, Khuê tình, Tử dạ thu ca…), về tình bạn hữu (
Tống hữu nhân, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Văn Vương Xương Linh thiên Long Tiêu…), tình trai gái (
Oán tình, Xuân tứ…), nhớ quê hương (
Tĩnh dạ tứ, Ức Đông Sơn…). Nhưng nhiều nhất vẫn là về rượu (
Tương Tiến tửu, Bả tửu vấn nguyệt, 4 bài nguyệt hạ độc chước, Xuân nhật độc chước, Đối tửu…).
Lý Bạch làm thơ lối Cổ Phong rất được yêu thích, ngoài ra còn có thơ tứ cú, bát cú. Sau đây là những bài được truyền tụng:
望廬山瀑布
…
日照香爐生紫煙,
遙看瀑布掛前川;
飛流直下三千尺,
疑是銀河落九天。 |
Vọng Lư sơn bộc bố
…
Nhật chiếu hương lô sinh tử yên,
Dao khán bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên. |
Xa ngắm thác núi Lư
…
Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này :
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây. |
Hành lộ nan
…
Đình bôi đầu trợ bất năng thực
Bạt kiếm tứ cố tâm mang nhiên
…
Hành lộ nan! Hành lộ nan
Đa kỳ lộ, kim an tại?
Trường phong phá lãng hôi hữu thì
Trực quải vân phàm tế thượng hải. |
Đường đi khó
…
Dừng chén, ném đũa, nuốt không được
Tuốt kiếm nhìn quanh lòng mênh mang
Muốn vượt Hoàng Hà sông băng đóng
…
Đường đi khó ! Đường đi khó !
Nay ở đâu ? Đường bao ngả ?
Cưỡi gió phá sóng hẳn có ngày
Treo thẳng buồm mây vượt biển cả.
Dịch: khuyết danh |
將進酒
君不見黃河之水天上來,
奔流到海不復回?
君不見高堂明鏡悲白髮,
朝如青絲暮成雪?
人生得意須盡歡,
莫使金樽空對月。
天生我才必有用,
千金散盡還復來。
烹羊宰牛且為樂,
會須一飲三百杯。
岑夫子,
丹丘生,
將進酒﹐
杯莫停。
與君歌一曲,
請君為我傾耳聽。
鐘鼓饌玉何足貴,
但願長醉不願醒。
古來聖賢皆寂寞,
唯有飲者留其名。
陳王昔時宴平樂,
斗酒十千恣歡謔。
主人為何言少錢,
逕須沽取對君酌。
五花馬,千金裘,
呼兒將出換美酒,
與爾同消萬古愁。 |
Sắp mời rượu
Biết chăng ai:
Sông Hoàng Hà ngọn nước tại lưng trời
tuôn đến bể khôn vời lại được.
Biết chăng nữa:
Đài gương mái tóc bạc
sớm như tơ mà tối đã như sương.
Nhân sinh đắc ý nên càng
Khôn nỡ để chén vàng trơ với nguyệt.
Tài hữu dụng lẽ trời âu hẳn quyết,
Nghìn vàng kia khi hết lại còn.
Lúc vui chơi nào nhắm mùi ngon,
Ba trăm chén cũng dồn một cuộc.
Cụ Sầm rủ cụ Đan khuyên chuốc,
Rượu nâng lên chớ được dừng tay.
Vì ngươi hát một khúc này,
Xin ngươi sẽ lắng tai nghe lấy.
Tiệc chung cổ ngọc vàng là mấy,
Hãy nên say say mãi tỉnh chi mà.
Thánh hiền xưa cũng vẳng xa,
Chỉ có rượu với người say là vẫn để.
Tiệc Bình Lạc xưa kia cũng thế,
Mười nghìn chung mặc thích vui cười.
Tiền chủ nhân bao quản vắn dài,
Cũng mua nữa cùng ngươi khuyên rót.
Ngựa hoa tốt mà áo cừu cũng tốt,
Gọi đồng ra đổi lấy rượu ngon.
Cùng ngươi giải vạn kiếp buồn.
Dịch: khuyết danh |
清平調其一
雲想衣裳花想容,
春風拂檻露華濃。
若非群玉山頭見,
會向瑤臺月下逢。 |
Thanh bình điệu kỳ 1 – Dịch
Ngô Tất Tố
Thoáng bóng mây hoa, nhớ bóng hồng.
Gió xuân dìu dặt giọt sương trong
Ví chăng non ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông. |
俠客行
趙客縵胡纓,
吳鉤霜雪明
銀鞍照白馬,
瘋沓如流星
十步殺一人,
千里不留行
事了拂衣去,
深藏身與名
閑過信陵飲,
脫劍膝前橫。
將炙啖朱亥,
持觴勸侯嬴。
三杯吐然諾,
五岳倒為輕。
眼花耳熱後,
意氣素霓生。
救趙揮金錘,
邯鄲先震驚。
千秋二壯士,
烜赫大樑城。
縱死俠骨香,
不慚世上英。
誰能書閣下,
白首太玄經。 |
Bài ca người hiệp khách
Khách nước Triệu phất phơ giải mũ
Gươm Ngô câu rực rỡ tuyết sương
Long lanh yên bạc trên đường
Chập chờn như thể muôn ngàn sao bay
Trong mười bước giết người bén nhạy
Nghìn dặm xa vùng vẫy mà chi
Việc xong rũ áo ra đi
Xoá nhòa thân thế, kể gì tiếng tăm
Rảnh rang tới Tín Lăng uống rượu
Tuốt gươm ra, kề gối mà say
Chả kia với chén rượu này,
Đưa cho Châu Hợi, chuốc mời Hầu Doanh.
Ba chén cạn, thân mình xá kể!
Năm núi cao, xem nhẹ lông hồng
Bừng tai, hoa mắt chập chùng,
Mống tuôn hào khí mịt mùng trời mây
Chùy cứu Triệu vung tay khảng khái,
Thành Hàm Đan run rẩy, kinh hoàng
Nghìn thu tráng sĩ hai chàng
Tiếng tăm hiển hách, rỡ ràng Đại Lương.
Thân dù thác, thơm xương nghĩa hiệp;
Thẹn chi ai hào kiệt trên đời.
Hiệu thư dưới gác nào ai?
Thái huyền, trắng xoá đầu người chép kinh
Dịch: Trần Trọng San |
Bài thơ trên đây đã được Kim Dung dựa vào để viết lên truyện Hiệp khách hành, sau này đã được dựng lên thành phim
Trích dẫn tiêu biểu
- “Mã nhĩ đông phong” (Tai ngựa, gió đông) – Lý Bạch viết trong
bài “Nhớ mười hai đem lạnh Vua Đáp uống một mình” (荅王十二寒夜獨酌有懷):
Thế nhân văn thử giai điệu đầu, hữu như đông phong xạ mã nhĩ
(世人聞此皆掉頭、有如東風射馬耳), nghĩa là “Mọi người trong thế giới đều nghe ấy
và lắc đầu, thật giống như gió xuân thổi qua tai ngựa”.
- “Kim Cốc tửu sổ” (Kim Cốc số rượu) – Từ bài thơ “Đêm xuân uống rượu trong vườn đào mận (春夜宴桃李園序)”: Như thi bất thành, phạt y Kim Cốc tửu sổ (如詩不成、罰依金谷酒數), nghĩa là “Như thơ không thành, phạt theo số rượu ở Kim Cốc”.
Đỗ Phủ (712 – 770) là một nhà thơ Trung Quốc nổi bật thời nhà Đường.
Cùng với Lý Bạch, ông được coi là một trong hai nhà thơ vĩ đại nhất
Trung Quốc. Tham vọng lớn nhất của ông là có được một chức quan để giúp
đất nước, nhưng ông đã không thể thực hiện được điều này. Cuộc đời ông,
giống như cả đất nước, bị điêu đứng vì Loạn An Lộc Sơn năm 755, và 15
năm cuối đời ông là khoảng thời gian hầu như không ngừng biến động.
Mặc dù không nổi tiếng từ đầu, những tác phẩm của ông gây ảnh hưởng
nhiều đến cả văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản. Ông từng được các nhà phê
bình Trung Quốc gọi là
Thi sử và
Thi thánh.
Đối với độc giả phương Tây, tầm vóc các tác phẩm của ông sánh ngang với
"Virgil, Horace, Ovid, Shakespeare, Milton, Burns, Wordsworth,
Béranger, Hugo hay Baudelaire. (Hung p. 1)
Cuộc đời
Theo truyền thống, phê bình văn học Trung Quốc nhấn mạnh trên sự hiểu
biết kỹ lưỡng về cuộc sống của tác giả khi xem xét tác phẩm. Điều này
càng trở nên quan trọng trong trường hợp tác giả như Đỗ Phủ, bởi vì
trong các tác phẩm thơ của ông, đạo đức và lịch sử chiếm một phần quan
trọng. Một lý do khác là thơ Trung Quốc thường có đặc thù ở tích súc
tích lớn, thường bỏ qua một số chi tiết, nhưng đối với một trí thức
đương thời, nó lại không quá khó hiểu. Vì thế để hiểu thơ Đỗ Phủ, cần
phải có một hiểu biết về thời đại, địa điểm và hoàn cảnh phát sinh của
nó. Do vậy, một số chi tiết cuộc đời Đỗ Phủ sẽ được liệt kê ở dưới đây.
Những năm đầu tiên
Đa phần những gì chúng ta hiện biết về cuộc đời Đỗ Phủ là thông qua các bài thơ của ông.
Giống như nhiều nhà thơ Trung Quốc khác, Đỗ Phủ xuất thân từ một gia
đình quý tộc (tự cho là dòng dõi vua Nghiêu) đã sa sút. Ông sinh năm
712: không biết rõ nơi sinh của ông, trừ chi tiết nó ở gần Lạc Dương,
tỉnh Hà Nam (huyện Củng cũng có thể là nơi sinh của ông). Sau này ông tự
coi mình là người kinh đô Trường An.
Trung Quốc thời Đỗ Phủ
Mẹ Đỗ Phủ mất một thời gian ngắn sau khi sinh ông, và ông đã được
thím nuôi một thời gian. Người anh trai của ông mất sớm. Ông cũng có ba
em trai và một em gái khác mẹ, họ thường được nhắc tới trong các bài thơ
của ông, dù ông không bao giờ đề cập tới mẹ kế.
Vì là con trai của một học giả-quan lại bậc thấp, thời trẻ ông được
tiếp thu nền giáo dục đúng theo tiêu chuẩn thời đó để có thể trở thành
một quan lại dân sự sau này: học thuộc lòng các tác phẩm triết học kinh
điển Khổng giáo, lịch sử và thi ca. Sau này ông cho rằng mình đã sáng
tác một số bài thơ hay ngay từ khi tuổi còn trẻ, nhưng không lưu giữ
lại.
Đầu những năm 730 ông đi tới vùng Giang Tô/Triết Giang; những bài thơ
đầu tiên của ông, miêu tả một cuộc thi thơ, được cho là đã sáng tác ở
cuối thời kỳ này, khoảng năm 735.
Cùng năm ấy ông đi tới Trường An để dự thi nhưng bất ngờ bị đánh
hỏng, việc này đã gây ra chỉ trích trong nhiều thế kỷ tiếp sau. Có lẽ
ông đã trượt bởi vì cách hành văn thời ấy quá rắc rối và tối nghĩa,
nhưng có ý kiến khác lại cho rằng ông trượt vì đã không tìm kiếm được
các mối quan hệ ở kinh đô. Sau kì thi này ông tiếp tục đi du lịch quanh
vùng Sơn Đông và Hà Bắc.
Cha ông mất khoảng năm 740. Theo cấp bậc của cha, Đỗ Phủ có thể được
phép nhận một chức quan dân sự, nhưng ông đã dành ưu đãi này cho một
người em khác mẹ. Bốn năm sau đó ông sống ở vùng Lạc Dương, thực hiện
các bổn phận gia đình.
Mùa thu năm 744 ông gặp Lý Bạch lần đầu tiên, và giữa hai nhà thơ đã
nảy sinh một tình bạn vong niên: Đỗ Phủ còn trẻ tuổi, trong khi Lý Bạch
đã nổi tiếng trên văn đàn. Hai ông đã viết nhiều bài thơ về nhau. Họ chỉ
gặp lại nhau một lần nữa năm 745.
Năm 746 Đỗ Phủ tới kinh đô để tìm kiếm một chức quan. Ông tham gia
vào cuộc thi năm sau đó, nhưng tất cả thí sinh đều bị vị tể tướng đánh
trượt (để chứng tỏ mình đã sáng suốt sử dụng hết người tài và ngăn chặn
sự trỗi dậy của bất kỳ đối thủ tiềm tàng nào). Từ đó ông không bao giờ
đi thi nữa, chỉ thỉnh cầu trực tiếp hoàng đế năm 751, 754 và có lẽ cả
năm 755.
Cuối cùng, vào năm 755 ông được chỉ định làm quan coi kho vũ khí. Dù
đây chỉ là một chức nhỏ, ít nhất trong thời bình nó cũng là một buớc
khởi đầu cho hoạn lộ của ông. Tuy nhiên, trước khi ông có thể nhậm chức,
một loạt các sự kiện xảy ra đã khiến nó không bao giờ còn được thực
hiện.
Chiến tranh
Loạn An Lộc Sơn xảy ra vào tháng 12, 755 và chỉ tan rã hoàn toàn sau
tám năm. Nó tàn phá xã hội Trung Quốc: năm 754 nước này có 52.9 triệu
người, nhưng tới năm 764 chỉ còn lại 16.9 triệu, số còn lại đã bị giết
hoặc bị dời đi. Trong thời gian này, Đỗ Phủ trải qua một cuộc sống trôi
nổi, không thể định cư lâu dài ở đâu vì chiến tranh, cũng như nạn đói và
sự bạc đãi của triều đình. Tuy nhiên, thời gian không hạnh phúc này
khiến Đỗ Phủ trở thành một nhà thơ đồng cảm với những đau khổ, bất hạnh
của người dân thường. Thực tế xung quanh, cuộc sống của gia đình ông,
những người hàng xóm, những người qua đường– những điều ông nghe thấy và
những gì ông hy vọng hay sợ hãi về tương lai– đã trở thành chủ đề chính
trong những sáng tác của ông.
Năm 756 Huyền Tông buộc phải thoái vị, bỏ kinh đô tháo chạy. Đỗ Phủ,
khi ấy đã rời kinh đô, đưa gia đình tới nơi lánh nạn và tìm đường đi
theo triều đình mới của Túc Tông, nhưng trên đường đi ông bị quân nổi
loạn bắt đưa về Trường An. Vào mùa thu, con trai út của ông ra đời. Mọi
người cho rằng trong khoảng thời gian này Đỗ Phủ đã bị bệnh sốt rét.
Năm sau ông bỏ trốn khỏi Trường An, và được cho giữ chức Tả thập di
trong triều đình mới tháng 5 năm 757. Chức vụ này khiến ông có cơ hội
gặp gỡ Hoàng đế, nhưng chỉ mang tính nghi lễ. Đỗ Phủ nhanh chóng gặp rắc
rối khi ông lợi dụng cơ hội này để dâng thư can gián việc loại bỏ Phòng
Quán người bạn và là người bảo trợ của ông chỉ vì một lỗi nhỏ: sau đó
tới lượt chính ông bị giam nhưng tới tháng 6 được thả ra. Tháng 9 năm ấy
ông được cho phép về gặp gia đình, nhưng nhanh chóng quay lại triều
ngày 8 tháng 12, 757. Ông cùng triều đình quay lại Trường An sau khi
quân triều đình tái chiếm nó. Tuy nhiên, những lời can gián của ông
không hợp với hoàng đế và vào mùa hè năm 758 ông bị giáng cấp làm Tư
công tham quân ở Hoa Châu. Chức vụ này làm ông chán ngán: trong một bài
thơ, ông đã viết:
"I am about to scream madly in the office/Especially when they bring more papers to pile higher on my desk."
Mùa hè năm 759 ông lại ra đi; lý do của lần này thường được cho là vì
nạn đói nhưng cũng có ý cho rằng ông ra đi vì vỡ mộng. Năm sau đó ông
sống sáu tuần tại Tần Châu (hiện nay là Thiên Thuỷ, tỉnh Cam Túc), ở đây
ông đã sáng tác sáu mươi bài thơ.
Thành Đô
Năm 760 ông tới Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên), nơi ông sẽ sống trong năm
năm tiếp theo. Tới mùa thu năm đó ông rơi vào cảnh túng quẫn phải gửi
thơ tới những người quen biết để cầu xin giúp đỡ. Ông được Nghiêm Vũ,
một người bạn và là đồng môn đang làm tổng trấn ở Thành Đô giúp đỡ. Dù
vậy đây vẫn là một trong những giai đoạn thanh bình và hạnh phúc nhất
của ông, và nhiều bài thơ sáng tác trong thời kỳ này miêu tả lại cuộc
sống thanh bình trong "thảo đường" ở đó. Năm 762 ông rời thành phố này
để tránh một cuộc bạo loạn, chỉ quay lại vào mùa hè năm 764 và được chỉ
định làm Kiểm hiệu công bộ viên ngoại lang, tham gia vào chiến dịch
chống lại người Tây tạng.
Những năm sau này
Quân đội triều đình tái chiếm Lạc Dương, nơi sinh Đỗ Phủ, vào mùa
đông năm 762, và vào mùa xuân năm 765 Đỗ Phủ cùng gia đình đi thuyền
xuôi sông Dương Tử, với ý định quay về Lạc Dương. Chuyến đi rất chậm, vì
tình trạng sức khỏe kém của ông (lúc ấy ông mắc thêm bệnh mắt, điếc và
nói chung đã ở tuổi già lại thêm những lo lắng phiền não). Họ dừng lại ở
Quỳ Châu (hiện nay là Bạch Đế, Trùng Khánh) trong hai năm cho tới tận
cuối mùa đông năm 766. Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ cuối cùng của
thơ Đỗ Phủ, và cũng chính ở đây ông đã sáng tác 437 bài thơ đa phần là
thơ luật. Mùa thu năm 766 Bo Maolin trở thành tổng trấn trong vùng: ông
giúp đỡ tài chính và trao cho Đỗ Phủ một chức quan thư ký không chính
thức.
Ông lập gia đình từ khoảng năm 752, và tới năm 757 họ đã có năm con
(ba trai hai gái) nhưng một cậu con trai ông đã chết khi còn thơ ấu năm
755.
Từ năm 754 ông bắt đầu bị bệnh phổi (có lẽ là hen suyễn). Tháng 3 năm
768 ông lại bắt đầu chuyến hành trình tới tỉnh Hồ Nam. Ông mất tại Đàm
Châu 潭州 (nay là Trường Sa) vào tháng 11 hay tháng 12 năm 770, ở tuổi 59,
trên một chiếc thuyền rách nát… Vợ và hai con trai ông vẫn ở tại đó
thêm ít nhất hai năm nữa. Cuối cùng dòng dõi còn được biết của ông là
một cháu trai, người đã đề nghị Nguyên Chẩn viết bài minh trên mộ ông
vào năm 813.
Tư tưởng và tác phẩm
Một đoạn trong bài thơ "Thăm đền Lão Tử" của Đỗ Phủ, bản viết tay thế kỷ 16
Giới phê bình văn học chú trọng tới tính sử, đạo đức và kỹ thuật sáng tác điêu luyện của ông.
Lịch sử
Từ thời nhà Tống thơ Đỗ Phủ đã được gọi là "thi sử" (詩史). Vấn đề lịch
sử được đề cập trực tiếp trong thơ ông là sự bình luận các sách lược
quân sự, các thắng bại của triều đình hay những ý kiến ông muốn đề đạt
trực tiếp tới hoàng đế. Một cách gián tiếp, ông viết về ảnh hưởng của
thời đại đối với đời sống chính mình cũng như người dân thường Trung
Quốc.
Những phản ánh chính trị của Đỗ Phủ dựa trên cảm xúc chứ không dựa
trên tính toán. Ông ước ao mọi người bớt ích kỷ và làm tròn bổn phận của
mình. Tuy nhiên, do người ta không thể không đồng ý với các quan điểm
của ông nên các sự thật được biểu đạt đầy sức thuyết phục trong thơ ông
đã khiến ông trở thành một nhân vật trung tâm trong thi sử Trung Quốc.
Đạo đức
Một danh hiệu thứ hai mà các nhà phê bình Trung Quốc đặt cho Đỗ Phủ
là "thi thánh" (詩聖), ngang hàng với Khổng Tử, vị thánh về triết học.
Trong một bài thơ ở thời kỳ đầu tiên của ông,
Binh xa hành(兵
車行) (khoảng năm 750), đã nói lên nỗi thống khổ của một người bị bắt đi
lính trong quân đội triều đình, thậm chí trước khi xảy ra loạn An Lộc
Sơn; bài thơ này nói lên sự xung đột giữa việc chấp nhận và hoàn thành
nghĩa vụ, và sự ý thức rõ ràng về những đau khổ có thể nảy sinh. Chủ đề
này liên tiếp được nhấn mạnh trong những bài thơ về cuộc đời của dân
chúng và binh sĩ mà Đỗ Phủ sáng tác trong cả cuộc đời mình.
Tuy việc Đỗ Phủ hay nhắc đến sự thống khổ của riêng mình có thể đem
lại một ấn tượng về chủ nghĩa duy ngã. Nhưng thực tế hình ảnh ông trong
đó luôn được quan sát dưới góc độ khách quan và hầu như chỉ được đưa ra
sau chót để tự cảm thán. Vì thế, ông khiến bức tranh xã hội trong thơ
mang tính khái quát cao hơn khi so sánh nó với một cá nhân tầm thường là
chính mình.
Tình thương của Đỗ Phủ đối với chính mình và với người khác chỉ là
một phần trong các chủ đề của thơ ông: ông còn sáng tác nhiều bài về
những chủ đề mà trước đó bị coi là không thích hợp để thể hiện trong
thơ. Zhang Jie đã viết rằng đối với Đỗ Phủ, "mọi thứ trên thế giới này
đều là thơ" (Chou p. 67), các chủ đề trong thơ ông rất bao quát, như
cuộc sống hàng ngày, thư họa, hội họa, thú vật và các chủ đề khác.
Kỹ thuật
Trước tác của Đỗ Phủ đặc biệt nổi tiếng nhất vì tầm vóc của nó. Các
nhà phê bình Trung Quốc thường dùng từ Tập đại thành 集大成, theo lời ca
ngợi của Mạnh Tử dành cho Khổng Tử. Yuan Zhen là người đầu tiên lưu ý
tới mức độ to lớn của các tác phẩm của Đỗ Phủ, năm 813 ông đã viết, (Đỗ
Phủ) "đã thống nhất trong tác phẩm của mình những nét tiêu biểu mà người
trước mới chỉ đề cập riêng lẻ". Ông là nhà thơ tài nghệ trong mọi phong
cách thơ Trung Quốc. Ở bất cứ hình thức nào ông đều mang lại những tiến
bộ vượt bậc hay đóng góp những ví dụ mẫu mực. Hơn nữa, thơ ông có phạm
vi sử dụng từ vựng rộng lớn, từ cách nói trực tiếp và thông tục cho đến
cách nói bóng và ngôn ngữ văn chương. Nội dung chính trong thơ đã thay
đổi khi ông phát triển phong cách của mình để thích hợp với hoàn cảnh
xung quanh. Những bài thơ đầu tiên theo phong cách trang nhã nhưng về
sau này khi trải qua những cơ cực của chiến tranh thơ ông đã trở lại với
phong cách đích thực của mình. Những bài thơ sáng tác trong giai đoạn ở
Tần Châu đơn giản đến tàn nhẫn, phản ánh quang cảnh hoang tàn. Những
bài thơ giai đoạn ở Thành Đô nhẹ nhàng và đẹp đẽ, trong khi ở cuối giai
đoạn Quỳ Châu đậm chi tiết và có tính dự báo.
Dù sáng tác ở mọi thể loại thơ, Đỗ Phủ nổi tiếng nhất ở cận thể thi,
một kiểu thơ có nhiều ràng buộc về hình thức và số lượng từ trong câu.
Khoảng hai phần ba trong 1.500 tác phẩm hiện còn của ông là ở thể này,
và nói chung ông được coi là nhà thơ tiêu biểu cho thể loại này. Những
bài thơ đạt nhất của ông trong thể loại dùng phép đối song song để thêm
nội dung biểu đạt thay vì chỉ là một quy định kỹ thuật thông thường.
Ảnh hưởng
Sinh thời và ngay sau khi mất, Đỗ Phủ đã không được đánh giá cao,
phần vì những đổi mới trong phong cách và hình thức thơ ông. Một số bị
coi là quá táo bạo và kỳ cục đối với giới phê bình văn học Trung Quốc.
Chỉ một số ít tác giả đương thời có nhắc tới ông và miêu tả ông với tính
chất tình cảm cá nhân, chứ không phải như một nhà thơ xuất chúng hay lý
tưởng đạo đức. Thơ Đỗ Phủ cũng ít xuất hiện trong những hợp tuyển văn
học thời kỳ đó.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông đối với thi ca Trung Quốc ngày càng mạnh
mẽ, và tới thế kỷ thứ 9 ông đã trở nên rất nổi tiếng. Những lời ngợi ca
đầu tiên dành cho Đỗ Phủ là của Bạch Cư Dị, người đã ca ngợi những tình
cảm đạo đức trong một số tác phẩm của Đỗ Phủ. Hàn Vũ đã viết bài bênh
vực mỹ học trong thơ Đỗ Phủ và Lý Bạch trước những lời chỉ trích nhằm
vào họ. Tới đầu thế kỷ thứ 10, Wei Zhuang đã cho dựng lại bản sao đầu
tiên ngôi nhà tranh của ông ở Tứ Xuyên.
Tới thế kỷ 11, trong giai đoạn Bắc Tống, danh tiếng Đỗ Phủ lên tới
cực điểm. Trong thời gian này các nhà thơ trước đó đã được đánh giá lại
một cách toàn diện, theo đó Vương Duy, Lý Bạch và Đỗ Phủ lần lượt được
coi là đại diện cho xu hướng Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo trong văn
hóa Trung Quốc. Cùng lúc ấy, sự phát triển của Tân Khổng giáo đã đặt Đỗ
Phủ lên vị trí cao nhất, vì trong cả cuộc đời, ông đã không vì đói
nghèo cùng khổ mà quên đi quân vương của mình. Ảnh hưởng của ông càng
tăng do khả năng hòa hợp những mặt đối lập: phe bảo thủ chính trị bị thu
hút bởi sự trung thành của ông với hệ thống tôn ti trật tự sẵn có, còn
phe cải cách nắm lấy mối quan tâm của ông đối với đời sống dân nghèo. Từ
khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, sự trung thành với
quốc gia và những quan tâm của ông tới người nghèo đã được giải thích
sự phôi thai của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và ông được tán
dương vì ông đã sử dụng ngôn ngữ giản dị "của nhân dân".
Sự nổi tiếng của Đỗ Phủ lớn tới mức có thể đo được, như trường hợp của Shakespeare ở Anh. Mỗi nhà thơ Trung Quốc đều khó có thể
không
bị ảnh hưởng từ ông. Không bao giờ có một Đỗ Phủ thứ hai, các nhà thơ
sau này tiếp nối truyền thống trong từng khía cạnh cụ thể của thơ ông.
Mối quan tâm của Bạch Cư Dị tới dân nghèo, lòng yêu nước của Lục Du, các
phản ánh cuộc sống hàng ngày của Mai Nghiêu Thần là một vài ví dụ.
Trích dẫn tiêu biểu
- "Gia thư vạn kim" (Thư quê, muôn vàng) - Từ bài Xuân vọng (春望) của Đỗ Phủ: "Phong hoả liên tam nguyệt, gia thư để vạn kim = Khói lửa liền ba tháng, thư quê đáng muôn đồng (烽火連三月、家書抵萬金)".
Bạch Cư Dị (chữ Hán: 白居易) (772-846) tự là Lạc Thiên (樂天), hiệu là Hương Sơn cư sĩ là nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng thời nhà Đường. Tác phẩm nổi tiếng của Bạch Cư Dị ở Việt Nam có lẽ là bài Tỳ bà hành, Trường Hận Ca.
Tổ tiên ông là người gốc Thái Nguyên, Sơn Tây, sau di cư tới huyện Vị
Nam, Thiểm Tây. Ông là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi
ca Trung Quốc. Đối với một số người yêu thơ văn thì người ta chỉ xếp
ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Mười lăm tuổi ông đã bắt đầu làm thơ, thuở
nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.
Năm Trinh Nguyên thứ 16 (năm 800), ông thi đỗ tiến sĩ được bổ làm
quan trong triều, giữ chức Tả thập di. Do mâu thuẫn với tể tướng Lý Lâm
Phủ, ông chuyển sang làm Hộ Tào tham quân ở Kinh Triệu. Năm Nguyên Hòa
thứ 10 (815), do hạch tội việc tể tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và
ngự sử Bùi Độ bị hành hung, nhóm quyền thần cho là ông vượt qua quyền
hạn, đày làm tư mã Giang Châu. Giai đoạn tuừ năm 821 tới năm 824 làm thứ
sử Hàng Châu, năm 825 làm thứ sử Tô Châu, sau được triệu về kinh làm
Thái Tử thiếu phó. Năm Hội Xương thứ 2 (842) về hưu với hàm thượng thư
bộ Hình, sau mất tại Hương Sơn, Lạc Dương.
Những năm đầu, ông cùng Nguyên Chuẩn ngâm thơ, uống rượu, được người
đời gọi là Nguyên Bạch. Sau này, khi Nguyên Chuẩn mất, lại cùng Lưu Vũ
Tích, hợp thành cặp Lưu Bạch. Người đời tôn xưng ông là Thi Ma.
Ông chủ trương đổi mới thơ ca. Cùng với Nguyên Chẩn, Trương Tịch,
Vương Kiến, ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được
hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông nói: "Làm văn
phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết", mục đích
của văn chương là phải xem xét chính trị mà bổ khuyết, diễn đạt cho được
tình cảm của nhân dân. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm
biếm nhẹ nhàng kín đáo. Trường hận ca để nói mối tình đẹp của Đường Minh
Hoàng và Dương Quý Phi, nhưng đọc kỹ thì những ý châm biếm, mỉa mai kín
đáo đều có. Ông cùng Nguyên Chẩn đề xướng phong trào Tân Nhạc Phủ, nên
trong thơ, ông luôn công kích đời sống xa hoa dâm dật của bọn quý tộc,
bóc trần sự bóc lột của bọn quan lại, thông cảm với nỗi thống khổ của
dân chúng (Tần Trung Ngâm, Tân Nhạc Phủ).
Thơ ông thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, nhân văn. Ông hòa đồng cùng dân
chúng, không coi việc làm quan của mình là gì, mà thấy mình cũng bị
cuộc đời làm cho bảy nổi ba chìm chẳng khác gì người đời (Tỳ bà hành).
Ông thông cảm với những thân gái chịu bao tập tục hủ bại và cảnh nghèo
túng mặc dù sắc đẹp thì chẳng thua ai (Nghị hôn).
Ông chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được. Không
những thế, tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng
của mọi người trước thế sự. Thơ ông giàu tính trữ tình. Khi ông bị đi
đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường
học, chùa chiền, quán trọ.... đều có đề thơ của mình, nên càng tự tin ở
chủ trương của mình hơn.
Riêng hai bài Tỳ Bà Hành và Trường Hận Ca đã đủ tỏ tài thơ của Bạch
Cư Dị. Bằng lối kể chuyện miêu tả, với chủ đề khác nhau, hai bài thơ dài
của ông, bài thì bay bướm, hình ảnh đẹp, lời bình trầm lắng, ý ngoài
lời, ca tụng, mỉa mai đều kín đáo; bài thì hoà đồng vào cảnh ngộ cùng
nhân vật, viết lên những tâm trạng gửi gắm của cả hai, người gẩy -người
nghe, vào tiếng đàn trên bến Tầm Dương, bài thơ da diết, buồn thấm thía
mà nỗi đời thì vời vợi mênh mang.
Ngoài ra ông còn làm một số bài thơ về thiên nhiên, nhàn tản. Lối nói
u hoài, vương một nỗi buồn riêng kín đáo. Ông thích đàm đạo về thiền,
về Lão Trang, cũng như là biểu hiện trốn đời, sau khi đã quá ngán về
nhân tình thế thái. Ông để lại khoảng trên 2.800 bài thơ.
Công trạng khi làm quan
Khi làm thứ sử Hàng Châu, thấy các công trình điều tiết nước cho nông
nghiệp đã bị bỏ hoang lâu ngày, ông đã cho tu tạo lại Tây Hồ, cho đắp
đê tại đây, trên trồng liễu, đến nay vẫn còn và được gọi là Bạch đê. Khi
làm thứ sử Tô Châu, ông cho đào một con sông đào nối Hổ Khâu ở phía tây
với Xương Môn ở hía đông gọi là Sơn Đường hà.
Nguồn : http://chinese.kenh7.vn